Thời sự pháp luật

Một số vướng mắc trong quy định pháp luật vể trích khấu hao tài sản cố định

 
 

1/ Về việc thông báo phương pháp trích khấu hao

Khoản 3, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 45/2013/TT-BTC quy định doanh nghiệp được tự quyết định phương pháp trích khấu hao, thời gian trích khấu hao TSCĐ nhưng phải thông báo phương pháp trích khấu hao, thời gian trích khấu hao tài sản cố định với cơ quan thuế trực tiếp quản lý trước khi bắt đầu thực hiện.

Phương pháp trích khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ mà doanh nghiệp đã lựa chọn và thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý phải được thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ. Doanh nghiệp chỉ được phép thay đổi một lần phương pháp trích khấu hao trong quá trình sử dụng và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp

Trong khi doanh nghiệp phải trích khấu hao kể từ ngày tăng tài sản cố định, tự quyết định phương pháp trích khấu hao, thời gian trích khấu hao và phải áp dụng nhất quán nhưng lại chỉ được tính vào chi phí phần trích khấu hao kể từ ngày thông báo với cơ quan thuế. Quy định này có phần rườm rà trong thủ tục về quản lý thuế, là đối với những DN mới thành lập trong quá trình triển khai thực hiện.

2/ Về chi phí khấu hao tài sản cố định là công trình tự xây dựng hoặc đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán

Theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 1, Điều 4, khoản 10 Điều 9 Thông tư 45/2013/NĐ-CP, đối với tài sản cố định hữu hình tự xây dựng hoặc tài sản cố định do đầu tư xây dựng cơ bản theo phương thức giao thầu đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp vẫn được hạch toán tăng tài sản cố định, nguyên giá xác định theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.

Trường hợp có sự chênh lệch giữa giá trị tạm tính và giá trị quyết toán, doanh nghiệp phải điều chỉnh lại nguyên giá tài sản cố định theo giá trị quyết toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Doanh nghiệp không phải điều chỉnh lại mức chi phí khấu hao đã trích kể từ thời điểm tài sản cố định hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng đến thời điểm quyết toán được phê duyệt. Chi phí khấu hao sau thời điểm quyết toán được xác định trên cơ sở lấy giá trị quyết toán tài sản cố định được phê duyệt trừ (-) số đã trích khấu hao đến thời điểm phê duyệt quyết toán tài sản cố định chia (:) thời gian trích khấu hao còn lại của tài sản cố định theo quy định.

Do đó, doanh nghiệp được tạm ghi tăng tài sản cố định và trích chi phí khấu hao tài sản kể từ thời điểm công trình tự xây dựng hoặc đầu tư xây dựng cơ bản theo phương thức giao thầu hoàn thành đưa vào sử dụng mà không phải đợi đến khi quyết toán.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 9 Thông tư 45/2013/NĐ-CP lại quy định: “Các khoản chi phí khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại các văn bản pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp”.

Điểm a khoản 1 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC (sửa đổi bổ sung bởi Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC) quy định: doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện:

-            Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

-            Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

-            Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Với quy định nêu trên, chi phí khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN khi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định.

Thực tiễn tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp cho thấy, một số đoàn kiểm tra có ý kiến về việc loại trừ chi phí khấu hao tài sản cố định của công trình xây dựng đã hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng chưa quyết toán với lý do công trình xây dựng chưa có đủ hồ sơ của tài sản cố định theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 45/2013/NĐ-CP.

Quan điểm loại trừ chi phí khấu hao trong trường hợp này không phù hợp với thực tế khách quan bởi khi chưa quyết toán công trình thì không thể yêu cầu doanh nghiệp phải có đủ hồ sơ tài sản cố định, đồng thời cũng mâu thuẫn với quy định về việc doanh nghiệp được tạm ghi tăng tài sản cố định và trích chi phí khấu hao tài sản kể từ thời điểm công trình hoàn thành đưa vào sử dụng. Căn cứ vào hoá đơn, chứng từ đã có mà doanh nghiệp dùng làm căn cứ tạm ghi tăng tài sản cố định, phải ghi nhận các chi phí khấu hao mà doanh nghiệp đã trích theo nguyên giá tạm tính.

Việc quy định thiếu rõ ràng như trên đã gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã bị loại trừ chi phí khấu hao bởi việc áp dụng pháp luật thiếu sự toàn diện. 

Xem thêm tin khác...