Bình luận

Những vi phạm tố tụng dẫn đến cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm trong vụ án hình sự

 
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện nay thì việc cạnh tranh giữa các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong một ngành nghề, lĩnh vực là điều không thể tránh khỏi, cạnh tranh là một trong những động lực để rất nhiều doanh nghiệp phải thay đổi hình thức, mẫu mã, giá thành sản phẩm để tốt hơn, hiện đại hơn.

Theo quy định tại Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; Sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.

Đồng thời, Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định rất rõ về việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại trong các trường hợp cụ thể:

- Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp:

+ Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;

+ Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố.

- Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp:

+ Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật này quy định;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;

+ Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội;

+ Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ;

+ Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 cũng quy định rất rõ khi hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi rõ lý do của việc hủy bản án sơ thẩm. Khi hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự cần áp dụng và hình phạt đối với bị cáo. Trường hợp hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên hủy bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.

Riêng đối với trường hợp hủy bán án sơ thẩm và đình chỉ vụ án thì dựa vào các căn cứ tại Điều 359 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Trong thực tiễn có một số những vi phạm tố tụng, thiếu sót điển hình dẫn đến cấp phúc thẩm hủy bản án hình sự của cấp sơ thẩm

- Bản án bị sửa chủ yếu là sửa mức hình phạt tù, chuyển án tù giam sang cho hưởng án treo, chuyển án treo thành án tù giam, sửa về trách nhiệm dân sự cụ thể:

+ Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo không được phát hiện, điều tra, thu thập (như: Bị cáo thuộc gia đình có công với cách mạng; thuộc diện xoá đói, giảm nghèo; bị cáo là lao động chính...) Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét những tình tiết mới phát sinh này, cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt hoặc cho hưởng án treo...

+ Một số trường hợp, mức án do Hội đồng xét xử tuyên đối với bị cáo có sự chênh lệch so với đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà. Mức hình phạt mà Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là quá nhẹ, quá nặng hoặc cho bị cáo hưởng án treo không đúng, nên có kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo quan điểm của Viện kiểm sát (Trong những năm gần đây, tỷ lệ kháng nghị của Viện kiểm sát được Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận và sửa bản án hình sự sơ thẩm của Toà án đạt tỷ lệ cao).

- Bản án bị cấp phúc thẩm huỷ án để điều tra, xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, chủ yếu là do:

+ Có vi phạm tố tụng: Lập bản vẽ sơ đồ hiện trường vụ án không chính xác; vi phạm trong việc khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường mâu thuẫn với lời khai bị cáo, nhân chứng, không có Kiểm sát viên tham gia; việc định tội hành vi vi phạm pháp luật có sự thiếu chính xác; tống đạt giấy triệu tập những người tham gia tố tụng không đúng quy định (chậm so với thời hạn luật định ít nhất là 10 ngày trước khi đưa vụ án ra xét xử); Biên bản phiên toà sơ thẩm bị chỉnh sửa (gạch, xoá) không có xác nhận hợp lệ...

+ Vận dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thiếu chính xác, chưa phù hợp quy định pháp luật, không có căn cứ; thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định; bị can, bị cáo không có người bào chữa (trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa). Cấp sơ thẩm điều tra vụ án chưa đầy đủ, bỏ lọt người phạm tội và tội phạm. Không tổng hợp hình phạt trong trường hợp bị cáo có nhiều bản án chưa thi hành. Xác định sai hoặc không đầy đủ tư cách tố tụng của những người tham gia tố tụng. Cùng một hành vi phạm tội nhưng cấp sơ thẩm lại xử lý về nhiều tội… Sau khi xét xử, Kiểm sát viên tham gia phiên toà không kiểm sát chặt chẽ biên bản nghị án và nội dung bản án. Huỷ án để xác định lại tuổi của bị cáo, chủ yếu do bị cáo không có giấy khai sinh hoặc giấy tờ có liên quan khác để chứng minh, trong khi đó tài liệu điều tra thể hiện độ tuổi của bị cáo không thống nhất.

Như vậy, có thể thấy trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã điều tra không đầy đủ (vi phạm trong việc lập biên bản hiện trường, thu giữ vật chứng, nhận định tội danh…), bỏ lọt tội phạm. Trong quá trình kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên hụ lý vụ án không phát hiện ra những sai sót, vi phạm trên để khắc phục, Toà án cấp sơ thẩm trước và trong khi xét xử cũng không phát hiện, làm rõ. Những sai sót trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm dẫn tới khi bản án bị kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm phát hiện thấy những vi phạm trên của bản án sơ thẩm.     

Để xảy ra thực trạng trên, chủ yếu do một số nguyên nhân sau: Năng lực, trình độ của một số Kiểm sát viên còn hạn chế nên khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiềm sát điều tra vụ án còn lúng túng, chưa bám sát được tiến độ điều tra, không kịp thời phát hiện những chứng cứ còn thiếu hoặc chưa phát hiện những vi phạm trong quá trình thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra kịp thời.

Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra vụ án chưa làm hết trách nhiệm; một số trường hợp như: Trưng cầu giám định trong trường hợp theo quy định pháp luật bắt buộc phải trưng cầu giám định nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện mà Kiểm sát viên không phát hiện kịp thời để ban hành yêu cầu điều tra hoặc việc xác định những vấn đề quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo trong một số loại án…

Tính chất, thủ đoạn phạm tội của tội phạm ngày càng tinh vi, có nhiều bị can tham gia và hành vi phạm tội xảy ra, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm; nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, nhiều thủ đoạn phạm tội mới được thực hiện, nhiều vụ án liên quan đến các hoạt động chuyên ngành rất phức tạp hoặc có liên quan đến nước ngoài… trong khi hoạt động giám định ở một số lĩnh vực chuyên ngành chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo thì trong hoạt động tiến hành tố tụng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải thực sự công tâm khách quan, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình để tránh việc cấp phúc thẩm phải hủy bản án của cấp sơ thẩm do những sai sót, vi phạm tố tụng như trong thời gian vừa qua.

Xem thêm tin khác...