Bình luận

Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp

 
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I của thực dân Pháp (1897-1914) và nhanh chóng trưởng thành trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929). Trước sự bóc lột thậm tệ và đàn áp dã man của tư bản thực dân, công nhân nước ta đã tự tổ chức nhau lại để đấu tranh giành và bảo vệ quyền lợi, nhiều nơi đã thành lập những hội nghề, nghiệp đoàn, công hội. Tiêu biểu nhất là Công hội Ba Son (Sài Gòn - Gia Định) được thành lập năm 1920 do đồng chí Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đứng đầu. Tuy phạm vi hoạt động chỉ ở cơ sở, thời gian hoạt động không lâu (năm 1926 tự giải tán) nhưng Công hội Ba Son đã có ảnh hưởng lớn trong phong trào công nhân Nam Bộ, để lại một dấu ấn trong lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức Công đoàn Việt Nam.

Người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập Công đoàn Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1923 khi viết tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người đã nói: “…Việc cần thiết hiện nay là phát động một cuộc tuyên truyền để thành lập các tổ chức công đoàn ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và phát triển các công đoàn hiện có còn dưới hình thức phôi thai”.

Năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người đã chỉ rõ tính chất, nhiệm vụ của Công hội là: “Tổ chức Công hội trước là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”.


Đứng trước sự đòi hỏi và yêu cầu của phong trào công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, ngày 28/7/1929, tại số nhà 15 phố Hàng Nón, thành phố Hà Nội đã tiến hành Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ (tiền thân của Công đoàn Việt Nam). Tham dự Đại hội có đại biểu của tổng công hội các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ Đông Triều, Mạo Khê (Quảng Ninh).


Trải qua thăng trầm của lịch sử, tổ chức Công đoàn có những sự phát triển lớn mạnh cả về lực lượng lẫn tư tưởng, góp phần không nhỏ vào sự thắng lợi của cách mạng nước ta.


Đến nay, Công đoàn đã trở thành một “tổ chức chính trị, xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động,.. là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác ”, được quy định rất rõ tại Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và Điều 1 Luật Công đoàn năm 2012.


Hiến pháp 2013, Luật Công đoàn 2012 và Bộ luật Lao động 2012 đã đặt lên vai tổ chức Công đoàn trọng trách cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp, Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức (Khoản 1, Điều 188 Bộ luật Lao động 2012).


Nền tảng pháp lý tương đối vững chắc, đảm bảo cho sự hình thành, phát triển là thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn, nhưng trên thực tế, tại nhiều doanh nghiệp, không chỉ riêng người sử dụng lao động mà cả những người lao động cũng ngần ngại trong việc thành lập và gia nhập tổ chức công đoàn cơ sở. Nhiều ý kiến cho rằng, việc thành lập, gia nhập tổ chức Công đoàn vừa mất thời gian, vừa phải đóng đoàn phí trong khi lợi ích mà Công đoàn mang lại chưa được nhiều.


Xuất hiện những ý kiến tiêu cực, trái chiều đó, một phần nguyên nhân do tổ chức Công đoàn cơ sở chưa phát huy được tối đa vai trò và năng lực của mình, ví dụ như: chưa tích cực tham qua vào quá trình thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở, quá trình thương lượng, ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện quy chế, quy định của người sử dụng lao động; cán bộ công đoàn tại các doanh nghiệp hoạt động kiêm nhiệm và do người sử dụng lao động trả lương, do đó một số cán bộ công đoàn còn ngại va chạm hoặc bị chủ doanh nghiệp chi phối nên chưa mạnh dạn và thiếu chủ động phối hợp trong thực hiện quy chế dân chủ, tổ chức hội nghị người lao động và đối thoại…


Tổ chức Công đoàn cơ sở là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động, không đồng nghĩa với việc Công đoàn có vị trí đối lập với người sử dụng lao động, đứng hoàn toàn về phía lợi ích riêng của người lao động. Trách nhiệm của công đoàn là xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến độ tại doanh nghiệp. Điều 15 Luật Công đoàn 2012 quy định rất rõ vai trò của Công đoàn là:

-       Tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến Công đoàn, người lao động; quy định của Công đoàn;
-      Tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức chấp hành pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
-      Tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt, nâng cao trình độ học vấn chuyên môn nghề nghiệp cho công nhân, lao động là nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sức lao động và để bảo đảm việc làm, thu nhập ổn định, tạo cơ hội phát triển.


Tuyên truyền, vận động công nhân lao động không ngừng học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ, tin học, kiến thức pháp luật, nhanh chóng tiếp thu và làm chủ khoa học công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất - kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.


Cùng với đó, tuyên truyền về vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân, lao động đối với việc xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng vận động công nhân, viên chức, lao động tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, xây dựng lối sống lành mạnh, rèn luyện sức khoẻ, có kỹ năng sống, phòng chống HIV/AIDS, ma túy và các tệ nạn xã hội. Tuyên truyền, vận đồng về trách nhiệm, nghĩa vụ của công nhân, lao động trong việc chấp hành nội quy, quy định, kỷ luật lao động của đơn vị, doanh nghiệp; giáo dục về tác phong công nghiệp cho công nhân, viên chức, lao động góp phần hạn chế tranh chấp lao động cá nhân, phát triển doanh nghiệp, qua đó tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất cho công nhân, người lao động.


Nhân dịp Kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2020), kính chúc tổ chức Công đoàn ngày càng lớn mạnh và thực sự phát huy được vai trò to lớn của mình, góp phần vào sự phát triển của giai cấp công nhân lao động và sự phát triển chung của đất nước.

Xem thêm tin khác...