Theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch 04/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC, Văn bản tố tụng sử dụng chữ ký số của người có thẩm quyền, chữ ký điện tử và phương thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng có giá trị pháp lý khi bảo đảm nội dung:
- Được lập trên phần mềm chuyên dụng tích hợp trên cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án và được ký số của người có thẩm quyền, người tham gia tố tụng hoặc sử dụng hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng đúng quy định.
- Sử dụng chứng thư chữ ký số còn hiệu lực tại thời điểm ký.
- Nội dung văn bản tố tụng điện tử bảo đảm tính toàn vẹn, không bị thay đổi sau khi ký hoặc xác nhận.
- Bảo đảm xác định thống nhất về chủ thể thực hiện và ý chí xác nhận đối với nội dung văn bản tố tụng, tài liệu, chứng cứ khác.
- Văn bản tố tụng sử dụng chữ ký số phải lập đúng thể thức, theo mẫu thống nhất, được cấp số, đóng dấu điện tử theo quy định.
- Việc sử dụng hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng phải bảo đảm:
+ Phần mềm chuyên dụng phải hiển thị đầy đủ nội dung văn bản tố tụng để người tham gia tố tụng kiểm tra trước khi thực hiện xác nhận; Việc xác nhận của người tham gia tố tụng phải được gắn với tính toàn vẹn của văn bản tố tụng;
+ Việc thực hiện hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng phải được ghi nhận nhật ký điện tử, lưu trữ thông tin về thời điểm xác nhận, hình thức xác nhận và các thông tin kỹ thuật, trường hợp cần thiết có thể ghi hình để phục vụ việc kiểm tra, đối chiếu khi cần thiết;
+ Việc thu thập, xử lý, lưu trữ và bảo vệ dữ liệu sinh trắc học của người tham gia tố tụng phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan.
Quy định trên quy định chi tiết thi hành khoản 5 Điều 131, khoản 3 Điều 132, Điều 141 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.