Theo quy định tại khoản 3 Điều 61 Nghị định 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ, Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến (nếu có), tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế khi phát hiện các trường hợp có giao dịch bất thường cần kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế.
Nội dung cung cấp thông tin được quy định tại khoản 7 Điều 61 Nghị định 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ bao gồm:
+ Thông tin theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 40 Luật Quản lý thuế 2025 gồm: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, nơi mở tài khoản, cụ thể đến chi nhánh mở tài khoản (nếu có), ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản;
+ Thông tin, dữ liệu liên quan đến giao dịch của người nộp thuế gồm số lượng, giá trị giao dịch, nội dung giao dịch, thông tin bên chuyển và bên nhận của giao dịch, thông tin về giao dịch trong và giao dịch xuyên biên giới của người nộp thuế; số dư tài khoản, số dư cuối kỳ, thu nhập phát sinh từ tài khoản và các thông tin khác theo quy định của Luật Quản lý thuế và phù hợp với pháp luật về các tổ chức tín dụng, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan phục vụ trực tiếp công tác quản lý thuế;
+ Thông tin, dữ liệu về chủ sở hữu hưởng lợi, người được ủy quyền, đồng chủ tài khoản, người thụ hưởng và các bên liên quan;
+ Thông tin về các giao dịch bất thường, đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền;
+ Thông tin theo tiêu chuẩn báo cáo thông tin tài khoản tài chính của đối tượng không cư trú thuế tại Việt Nam và các báo cáo khác phù hợp với tiêu chuẩn của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin cho mục đích thuế theo quy định tại Điều 63 Nghị định 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ.